Deprecated: Function session_register() is deprecated in /home/admin/domains/thunguyetvn.com/public_html/functions.php on line 91 Thu Nguyet Personal Site - Viết về tác phẩm TN
 
T
R
A
N
G
C
H
Thơ Thu Nguyệt
Văn Thu Nguyệt
Nhật ký tác giả
Viết về tác phẩm TN
Phim về Thu Nguyệt
Tác phẩm Đặng Ca Việt
 
 
Giới thiệu
QUỸ KHUYẾN HỌC
TÂM MINH

Ai ơi về
ĐỒNG THÁP MƯỜI...
ĐỊA CHỈ
QUÁN CƠM CHAY
QUÁN ĂN CHAY

Quảng Cáo
Khu nghỉ dưỡng & điều trịỊ
THIỀN TÂM
Viết về tác phẩm TN - Xem nội dung bài viết
BÙI NGUYỄN TRƯỜNG KIÊN - Thu Nguyệt, tiếng lòng của người xa quê
.


Thu Nguyệt

Tiếng lòng của người xa quê

                                                                       Bùi Nguyễn Trường Kiên

Bốn tập thơ trong 10 năm – tôi chẳng biết như thế là nhiều hay ít với một phụ nữ làm thơ, song câu chữ của những tập thơ ấy hầu như rất ít lặp lại, còn cái tình, cái tứ của người viết thì vẫn xuyên suốt, chân thành không đổi trong hàng trăm bài với đủ mọi thể. Sinh và lớn lên ở Cao Lãnh - Đồng Tháp (vùng đất mà mỗi lần lũ đến thường được xem là khắc nghiệt nhất các tỉnh miền Tây Nam Bộ) nhưng sau đó Sài Gòn là nơi Thu Nguyệt dừng chân và cũng từ vùng đất ấy đã chắp cánh cho thơ chị bay xa.

Những người bạn thường đùa với nhau: Ngay cả tiếng cười của Thu Nguyệt cũng đượm chất con gái miền Tây, chứ đừng nói gì tiếng nói và tiếng thơ của chị – luôn đậm nét chân quê đôn hậu. Câu chữ trong thơ Thu Nguyệt không hề chải chuốt một cách cố tình, nó cứ thật thà chân chất, cứ như là nói vậy mà làm người đọc phải ngẩn ngơ, nhíu mày, rồi tròn mắt xuýt xoa…

“Thời trẻ con tôi nghịch bùn số một

Mặt mũi lấm lem, tóc cháy hoe vàng

Mẹ tôi mắng suốt ngày như hát:

“Con bé này không thể giàu sang!”

 

Mẹ mất, tôi học giỏi nhất làng

Ra thành thị, móng chân vàng sơn đỏ

Sang trọng bước qua thời tuổi nhỏ

Nay trở về thăm mộ mẹ… bâng khuâng…

 

Trẻ con nhà bên xúm đến rần rần

Mặt mũi chúng không khác tôi ngày ấy

Những ánh mắt như thiên thần thơ dại

Tôi nghe mình khét cháy một vùng tim”.

… 

Không là dân Nam Bộ chính gốc thì chẳng thể nào có được câu “Trẻ con nhà bên xúm đến rần rần” đắt đến thế được và nếu không là một ngòi bút tài hoa, thì cũng chẳng thể nào có được câu kết làm cho đoạn thơ như một mũi kim làm nhói lòng người đọc “Tôi nghe mình khét cháy một vùng tim”.

Để cuối cùng bài thơ được kết bằng sự bất lực của chị (hay của chính con người) trước dòng chảy của cuộc đời. Có ai nắm giữ được quá khứ bao giờ:

“Mái tóc vàng hoe giờ biết đâu tìm

Cái mũi lấm lem mần sao tôi làm được?

Mới hay cái giòng đời như nước

Xối sạch mình cả điều muốn và không”.

(Qui luật)

Mẹ qua đời khi Thu Nguyệt vẫn còn tấm bé, thế nên trong thơ chị là những hoài niệm về mẹ, về một quảng đời thơ trẻ chưa biết hết sự bao la của tình mẹ, để đến khi mình làm mẹ, chị mới hiểu được…

“Ngày mẹ mất bông cà na rụng trắng

Hoa như mưa nhòe nhoẹt rối tơi bời

Trong nắm đất con lấp từ biệt mẹ

Có rất nhiều những cánh hoa rơi.

 

Hoa cũng như đời mẹ, mẹ ơi!

Nở lặng lẽ và rơi lặng lẽ

Cô đơn nào hơn những người mẹ trẻ

Con chưa đủ lớn khôn để chia sẻ vui buồn.

 

Giọng ru buồn len lén hoàng hôn

Ba mươi năm sau đời con mới hiểu

Nỗi cô đơn mẹ âm thầm gánh chịu

Nhiều như bông cỏ dại quê mình.

 

Giờ con cười bên những đứa con xinh

Nghe nước mắt chảy vào trong lặng lẽ

Bông cà na vẫn trắng tinh như thế

Nỗi cô đơn vùi xuống đất muôn đời.

 

Ngắm con khờ con thầm gọi mẹ ơi

Mưa tí tách ngoài thềm như tiếng vọng

Nhìn lên vách con khóc cùng với bóng

Mẹ bây giờ mới hiểu mẹ ngày xưa”.

(Mẹ trẻ)

Bên cạnh đó, “tiếng lòng” trong thơ chị là những điều rất cụ thể về cha. Với chị, cha là tất cả - không chỉ là tình thương của cha dành cho mà bóng cha, dấu chân của cha cũng theo chị suốt cuộc hành trình của kiếp người:

“Đồng ruộng quê mình làm bằng dấu chân ba

Từ đấy cần cù mọc lên ngọn lúa

Con lớn lên trên cánh đồng ngậm sữa

Đứng nơi nào cũng trên dấu chân ba.

 

Để bây giờ trong mỗi chuyến đi xa

Có bàn chân ba nâng bàn chân con bước

Con đã thay ba đi mọi miền đất nước

Như hạt gạo quê mình đến với mọi người thân.

 

Trong mơ con vẫn có những dấu chân

Là nốt nhạc bỗng trầm trong hương lúa

Dẫu đi đến nơi nào con vẫn nhớ

Bàn chân mình đứng trên dấu ba”.

(Dấu chân ba)

Hoặc:

“Bất ngờ tiếng chim rơi cuối phố

Điếng lòng trong trẻo tiếng quê xa

Thành thị ta ngồi nghe nước mắt

Tí tách rơi tuôn nỗi nhớ nhà.

 

Nơi ấy Ba ta già yếu lắm

Cuối vườn hái trái nhớ con xa

Lá rơi xuống tóc không thèm phủi

Lẩm bẩm buồn vui với chó gà…”

Để rồi trong nỗi nhớ quê nhà quay quắt ấy, lần lượt hình bóng những người thân khác đã hiện ra trong chị một cách sắc nét, rõ ràng – như không phải là điều chị tưởng tượng, mà là điều có thật:

“Nơi ấy em ta nghèo khó lắm

Suốt ngày chân đất với tay chai

Vất vả sớm hôm bùn bết tóc

Ra ngõ nhìn xa lén khóc hoài.

 

Nơi ấy cháu ta gầy bé lắm

Lá me, trái sắn… tiệc nhà vua

Cào cào dế nhủi đều đem nướng

Bóng khách đằng xa đã chạy ùa.

Để rồi, chị ước ao hóa kiếp lục bình để ngày ngày được quẩn quanh bên những người thân. Nhưng làm sao được…

Nơi ấy sông đầy bè hoa tím

Theo dòng trôi xuống lại quay lên

Ôi giá cuộc đời hiền như nước

dòng sông quê – ta: kiếp lục bình”.

(Nhớ nhà)

Có thể nói, xuyên suốt trong bốn tập thơ của Thu Nguyệt, đất-quê-xưa là hình ảnh luôn được tái hiện – nó như nỗi ám ảnh không bao giờ phai mờ trong tâm thức chị:

“Má ơi con vịt chết chìm

Con thò tay xuống vớt, cá lìm kìm nó cắn tay con”

                                            Ca dao

“Con mương nhỏ mỗi chiều tôi nghịch nước

Có chú lìm kìm cắn khúc ca dao

Mười năm qua không đắp không đào

Lá tre rụng, con mương sâu thành cạn.

 

Chú lìm kìm năm xưa bỏ bạn

Xuôi ngược đâu rồi theo lời mới dân ca

Tôi chiều nay trở lại quê nhà

Tay khỏa nước gọi lìm kìm đâu hỡi?!…

 

Mười năm nữa con mương thành đường mới

Chị tôi rồi phải quét lá tre rơi

Tôi trở về nhớ mãi nước mương vơi

Những mắt cá lìm kìm đầy cơn khát.

 

Vịt có chết chìm đâu? (Tôi buồn tôi hát)

Sao cá lìm kìm cắn mãi… trái tim tôi”.

(Hát về con mương nhỏ)

Nơi miền-quê-ký-ức ấy chị chẳng quên điều gì, khi mà không có cách nào khác - phải rời xa nó…

“Một lần con bước đi xa

Hành trang từ đất quê nhà: Tiếng ru

Con bươm bướm, ngọn mù u

Cầu tre lắc lẻo phập phù bước chân.

 

Phồn hoa, ừ … cũng đôi lần

Rụt rè chân xúi bàn chân thử liều

Đêm nằm nghe thạch sùng kêu

Ngỡ mình nói mớ cái điều sau tim.

 

Lời ru từ đó chao nghiêng

Quê nhà từ  đó ngỡ miền xa xăm

Sông dài cá lội biệt tăm

Rừng cao lá rụng biết nằm cội ai!

 

Bước đi là bỏ lại rồi

Hành trang khéo giữ một thời cũng phai

Thạch sùng nát lưỡi ru ai:

Muốn về chốn cũ phải quay lại mình”.

(Bước đi là bỏ lại rồi)

Để rồi, trong nỗi dằn vặt ở - về ấy, có lúc chị đã không kìm nén được nỗi lòng, phải thốt lên:

“Thôi mình trở lại với quê

Lá cao đến mấy cũng về cội thôi!

Quê nhà ta mến yêu ơi

Đây bờ tre chốn ta ngồi ngêu ngao

Đây trong vắt nước kinh đào

Tấm gương soi chẳng lừa nhau bao giờ.

 

Ta xin lỗi cỏ gà xưa

Một thời tuổi nhỏ ngắt bừa đá nhau

Bây giờ ta mới biết đau

Biết thương phận cỏ rơi đầu vì xanh

Ta xin lỗi ớt và chanh

Cay chua có mấy xưa mình cứ kêu

Ta xin lỗi nhé cánh diều

Đứt dây ta bỏ quên chiều gió mưa

 

Chân trần trở lại quê xưa

Mới hay là cỏ đã thưa vì màu

Mới hay là chẳng nơi đâu

Chân ta bước vững như cầu bến ta”.

(Thôi ta về)

Nhưng vì sao người con gái ấy lại phải thốt lên như vậy? Chúng ta hãy nghe chị lý giải:

“Thị thành điếc đặc khói xe

Trưa nay ngồi dưới vòm tre quê mình

 

Quá cưng…

                chú nhện trên cành

Quá thương….

                 Mắt chú chim rình ngó ta

Chời ơi ngọn gió quê nhà

Mát từ kiếp trước mát qua kiếp này

Nhẹ nhàng lá rụng trên vai

Dịu dàng thanh thản hai tay ắp đầy.

 

Đi đâu rồi cũng về đây

Dưới vòm tre thấy tháng ngày nhẹ bâng

Không muộn phiền, chẳng băn khoăn

Tóc buông, áo bỏ ngoài quần, chân không.

Nghêu ngao hát với ruộng đồng

Không không, sắc sắc, không không…

                                                    tắng tằng…!

 

Nhân gian ơi có biết rằng

Thế gian đâu cũng chẳng bằng nơi đây”.

(Vòm tre)

Nhưng cuộc đời đâu phải muốn mà được. Sài Gòn – nơi “thị thành điếc đặc khói xe” ấy chị phải hoàn thành một nghĩa vụ cao cả khác - người vợ, người mẹ. Chuyện học hành của con, công việc của chồng… đâu dễ dàng gì để người phụ nữ đau đáu nỗi nhớ quê làm tất cả những gì mình muốn! Thế nên, chị đành tự an ủi mình…

“Hồn nhiên mình hát với con

Những bài ca thuở mình còn bé xưa.

 

“Một vầng trăng tỏ” nên thơ

Cây đa chú cuội bơ vơ nẻo trời

“Bắc kim thang” bí rợ cười

Le le bìm bịp học đòi nhạc công

Thương đời con sít lội sông

Lang thang một kiếp tang bồng héo hon.

 

Hồn nhiên mình hát với con

Nghe thời niên thiếu như còn đâu đây

Lời ca như bát nước đầy

Đời mình như chén mẻ, tay run cầm

Ghé tai con trẻ nhắc thầm

Này con chớ có hát nhầm lời ca

 

Tuổi thơ gần, tuổi thơ xa

Hát cùng con để lời ca nhắc mình”.

(Hát với con)

Thương chồng thương con đến cháy lòng, song trong một góc khuất của trái tim, quê nhà vẫn mãi là nỗi nhớ quay quắt của thời thơ ấu:

“Mùa hạ đến hằng năm không trễ hẹn

Chỉ có ta lấn bấn cuối xuân thừa

Ép vào vở giúp con cành phượng đỏ

Bỗng ngỡ ngàng nhớ điếng cổng trường xưa.

 

Xe nước mía bóng me trùm mát rượi

Trái xoài xanh chấm muối đập vô tường

Bài toán học bỏ quên thành cửa sổ

Gió thổi vèo cuốn lịch sử theo luôn!

 

Rồi tiếng trống cuối cùng năm học cuối

Đánh chúng ta văng tứ tán giữa đời

Quay tất bật giữa bốn mùa sinh kế

Thoáng hạ về nhìn phượng… bỗng xa xôi.

 

Còn ít phượng thừa ta ép cho tôi

Con bướm nhỏ mất vòi, lệch cánh

Đặt vào ví bên những tờ tiền lạnh

Mùa hạ nát nhàu, bầm đỏ xác thời gian”.

(Thoáng hạ)

Yêu quê nhà, yêu cha mẹ, yêu những người thân, yêu thuở thiếu thời của mình… thế nào, thì tình yêu của chị dành cho chồng cũng nồng thắm như thế. Phải chăng vì thế mà Họa sĩ Nguyễn Việt Hải thuở sinh thời đã được bạn bè phong là “người đàn ông yêu thương vợ con nhất trên đời” (?).

“Mái tóc đã từng in dấu tay anh

Em không dám cắt đi

                                sợ mất dấu tình in trên ấy

Tóc dài mấy, dấu tay còn nguyên đấy

Nằng nặng như đời, nhè nhẹ như mơ…

Tóc vô tư cứ dài thờ ơ

Nuôi lớn dấu tình, nhắc hoài lời dịu ngọt

Rồi tóc xưa bạc dần rơi xuống

Dấu tay gầy, nhẹ theo tháng năm.

 

Một chiều sương khói xa xăm

Ngồi chải tóc lơ mơ em hát

Vẫn còn đây trên  từng sợi bạc

Mơ hồ, thấp thoáng dấu tay xanh…”

(Dấu tình)

Hoặc:

“Tôi là con bé nhà quê

Đôi khi nhấp chút bùa mê thị thành

Chút văn minh, chút lanh chanh

<p style="margin: 0in 6pt 0pt; text-indent: 30pt; line-height: 150%; text-alig

Các bài khác:
 
 
Thông tin sáng tác
Thư viện văn
Thư viện thơ
Tìm hiểu Phật giáo
Ý kiến bạn đọc
Thông tin từ thiện
L
I
Ê
N
H

T
G
 
Links đọc web
Tuổi trẻ
Thanh Niên
VietNamNet
Hội nhà văn VN
Hội nhà văn TP.HCM
Văn nghệ SCL
SG Giai Phong
Người Lao Động
Lao Động
Vnexpress
TTXVN
Hà Nội Mới
Tiền Phong
Nhân Dân
CA Tp HCM
CA Nhân Dân
Quân Đội ND
VTV
HTV
VNN Televison
HTV Hà Nội
TV Trực tuyến
Đài Tiếng Nói VN
Đài Tiếng Nói TPHCM
Dân Trí
24 Giờ
Tạp chí Lao Động
Tạp chí Gia Đình
VN Media
Tin tức Online
Đọc báo trực tuyến
Thời Báo SG
SG Tiếp Thị
Doanh Nhân SG
Diễn Đàn DN
Kinh Tế Đô Thị
Thời báo kinh tế SG
Thời báo KT Việt Nam
Báo
Báo Mua & Bán
Cẩm nang mua sắm
Sài Gòn News
Tạp chí VHNT ăn uống
Tạp chí Sành Điệu
Tuổi trẻ Cười
Báo Ảnh VN
Tạp Chí Đẹp
TC Kiến Trúc Nhà Đẹp
Tạp chí Tia Sáng
Thế hệ 8x
Báo Mực Tím
Sinh Viên VN
Thiếu nhi Tp
E Chíp
PC World
Ca dao
Thời văn
Tiền vệ
Bách hoa cung
Thơ trẻ
VN thư quán
báo Cần Thơ
Huế (cố đô)
Tạp chí Sông Hương
Giáo dục&thời đại
Đồng Tháp
VN Đồng Tháp
Báo Đồng Nai
Báo Khánh Hòa
Báo Bình Định
Báo mới
Ngôi sao
Dưỡng sinh
Vieshare
Tin tức - BBC
Tìm nhanh
Web tìm kiếm Google
THƯ VIỆN HOA SEN
ĐẠO PHẬT NGÀY NAY
THIỀN TÔNG VIỆTNAM
THIỀN SƯ NHẤT HẠNH
CHUYỂN PHÁP LUÂN
BÁO GIÁC NGỘ
PHẬT TỬ VIỆT NAM
VĂN HÓA PHẬT GIÁO
QUẢNG ĐỨC
BUDDHA SASANA
LOTUSMEDIA
PG NGUYÊN THỦY
DIỆU PHÁP ÂM
RỪNG THIỀN ĐẠT MA
PHÁP TẠNG
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
NI GIOI NGAY NAY
PHÁP VÂN
SUỐI TỪ
TTPG-CHÙA VIỆT NAM
TRUNG TÂM HỘ TÔNG
Y hoc cổ truyền
 
© by Thu Nguyet - All rights reserved.
Designed and developed by Nicestyle Co., Ltd.