Deprecated: Function session_register() is deprecated in /home/admin/domains/thunguyetvn.com/public_html/functions.php on line 91 Thu Nguyet Personal Site - Văn Thu Nguyệt
 
T
R
A
N
G
C
H
Thơ Thu Nguyệt
Văn Thu Nguyệt
Nhật ký tác giả
Viết về tác phẩm TN
Phim về Thu Nguyệt
Tác phẩm Đặng Ca Việt
 
 
Giới thiệu
QUỸ KHUYẾN HỌC
TÂM MINH

Ai ơi về
ĐỒNG THÁP MƯỜI...
ĐỊA CHỈ
QUÁN CƠM CHAY
QUÁN ĂN CHAY

Quảng Cáo
Khu nghỉ dưỡng & điều trịỊ
THIỀN TÂM
Văn Thu Nguyệt - BÚT KÝ
ANGKOR?!...

  

250

 

Rong rêu, mưa nắng… mặc đời

Bayon vẫn mỉm nụ cười… vậy thôi!

Sá gì lịch sử săm soi

Tha hồ bình phẩm hỡi người đời sau

Nụ cười không thấp không cao

Không yêu không ghét không sầu không vui

Bayon là Bayon thôi

Ở đâu cũng đất, cũng trời, cũng… rêu! 

ANGKOR ?!... Đã nghe, đọc, thấy… và ngẫm nghĩ

Đã nghe:

Hồi nhỏ, có đôi lần tôi nghe ba tôi và mấy bác hàng xóm nói với nhau rằng: “Ở trên xứ Miên có cái đền Đế Thiên Đế Thích, trong đó thờ trời phật và mấy bà thần nhảy múa... Đền đài thành quách họ đẽo toàn bằng đá mà lớn dữ lắm. Họ không gọt hình rồng như nước mình mà gọt hình rắn, rắn có gần cả chục cái đầu! Người Miên với người Chàm coi vậy mà khéo tay và trì chí hơn người Việt mình. Họ chịu khó xây chùa, xây tháp kỳ công lắm”.

“Lớn dữ lắm” là lớn bao nhiêu? Không ai biết, chỉ nghe ông bà truyền lại là như vậy. Thời đó cũng không ai đi tới xứ Miên mà có dịp trở về để kể cho nghe. Những người đi làm thuê làm mướn, làm cá mắm thì chỉ loanh quanh vùng gần biên giới chớ không vào sâu trong đất ấy; người nào đã vào sâu trên đất Miên rồi thì hầu như không về nữa, coi như sống chết xứ người luôn. Trong dân gian lưu truyền bao tin đồn về những lá bùa Miên, rằng đất Miên độc lắm, đi về là dễ “ngã nước” rồi sinh bịnh mà chết.

Đế Thiên Đế thích… những ngôi đền ấy trong trí tưởng tượng thời niên thiếu của tôi là những cung điện nguy nga lung linh màu cổ tích. Nơi đó có vô vàn những tiên nữ suốt ngày nhảy múa…

Đã đọc:

Angkor – một trong những kỳ quan thế giới mà người Việt gọi là Đế Thiên Đế Thích. Quần thể Angkor vĩ đại gồm khoảng 300 ngôi đền nằm trên vùng rừng già có diện tích 40km2 thuộc miền Bắc tỉnh Siem Reap ở Cambodia, cách thủ đô Phnom Penh khoảng 300km về phía Bắc. Được xây dựng bằng đá xanh, đá sa thạch và đá ong, từ thế kỷ IX-XIV, đây là di tích kiến trúc vĩ đại có lẽ là duy nhất trên giới đã bị bỏ quên hơn 3 thế kỷ trong rừng sâu. Năm 1860 được nhà thám hiểm người Pháp là Henri Mouhot phát hiện lại.

Angkor có những bức phù điêu hoành tráng với hàng vạn hình người và vật. Hàng ngàn nàng Apsara với gương mặt và tư thế, động thái khác nhau.

Có hai khu đền đặc biệt nhất trong quần thể Angkor đó là Angkor Wat và Angkor Thom.

Angkor Wat còn gọi là kinh đô chùa, có chu vi hơn 5,6km, với 5 tháp khổng lồ, được xây bằng đá xanh, đá sa thạch với sơ đồ ngũ điểm, hình chữ nhật, dài 1.500m, rộng 1.300m đặc biệt là quay mặt về hướng Tây. Đền xây dựng từ thế kỷ XII theo phong cách Hindu, sử thi Ramayana Ấn Độ, do vua Suryavarman II (1113-1150) cũng là ông vua từng đem quân tấn công nước Đại Việt năm 1150 (thời nhà Lý). Tháp chính cao 65m, tháp phụ cao 42m, chia làm 3 tầng. Đây cũng là ngôi đền lớn nhất nằm trong quần thể Angkor . Đường vào đền Angkor Wat là một cây cầu đá rộng, dài bắc qua hồ nước bao quanh đền.

Angkor Thom được coi là thành phố cổ, có chu vi 12km với 5 cổng thành, được Vua Jayavarman VII xây dựng sau Angkor Wat khoảng 100 năm. Trung tâm Angkor Thom là đền Bayon với 4 cửa nhìn ra 4 hướng, có 54 tháp cao từ 25 - 43m, mỗi tháp có tạc 4 mặt người. Angkor Thom có hàng trăm gương mặt (người ta gọi là mặt Phật) tạc bằng đá. Đường vào cửa Angkor Thom rất ấn tượng: Hai bên là các tượng thần ôm thân con rắn 7 đầu, dài khoảng vài trăm thước dọc hai bên cửa vào.

Ngoài ra, trong quần thể Angkor còn có rất nhiều đền tháp khác. Trong đó có đền Taprom còn được gọi là Lăng mộ Hoàng hậu. Đây là ngôi đền lãng mạn nhất nằm trong quần thể Angkor, được Vua Jayavarman VII xây năm 1186 để tưởng niệm mẹ của mình là Jayarajachudanami và thầy của vua mang tên Jayamangalartha. Cả hai bức tượng này đều được đặt trong đền. Các cây cổ thụ mọc ngay trên đền với những rễ cây lớn bao phủ các tháp, càng làm cho kiến trúc đền trở nên hoang vu, hết sức bí hiểm và kỳ lạ. Ngoài ra, quần thể Angkor còn có các đền tháp khác như Banteay Srei (điêu khắc cực kỳ tinh xảo), Preah Khan, Roulos, Phnom Bakeng…

Đã thấy:

Chủ đích của chuyến đi Cambodia lần này, tôi muốn thử đến một vùng “đất Phật”, đất nước của Chùa Tháp như nhiều người thường gọi; muốn được nhìn dòng nước Mê Kông ở một khúc sông khác trước khi chảy về sông Tiền sông Hậu thân thương – nơi tuổi thơ tôi ngụp lặn bốn mùa trên đó; muốn được tận mắt chiêm ngưỡng kỳ quan độc nhất vô nhị trên giới đã từng bị lãng quên hơn 3 thế kỷ trong rừng già. Với một tour du lịch bằng ô tô gói gọn trong vòng 4 ngày, tôi biết mình chỉ thể có ngó nhìn như chớp. Phải vậy thôi, ăn thua là ở chỗ phải ráng mà “chớp”, được chút nào hay chút đó. Đành nhái thơ của thiền sư (1): “Có thì tích tắc có ngay/ Không thì quanh quẩn ngàn ngày cũng không” để tự an ủi, khích lệ mình.

Quê tôi (Đồng Tháp) có con sông Sở Thượng là con sông biên giới. Nửa sông bên này là của “ta”, nửa sông bên kia là của “bạn”. Hằng năm vào mùa nước nổi, cánh Văn nghệ chúng tôi thường tổ chức những chuyến đi thực tế bằng tàu. Cứ thả nổi lênh đênh trên đồng nước, rất nhiều khi chúng tôi mon men đến cái “biên giới” kia, cho tàu chạy qua chạy lại trên sông và đùa rằng mới vừa xuất ngoại về!

Năm 1985, theo bộ đội Việt Nam đi làm nhiệm vụ Quốc tế, tôi đã từng đặt bước chân đầu tiên lên đất Campuchia với “tư cách” là phóng viên chiến trường. Có hai kỷ niệm nhớ đời đó là: ngủ hầm, không sợ quân Pôn Pốt tập kích mà chỉ sợ… bò cạp, rắn rít. Lội qua con suối rộng hơn 10m mà bị trôi gần 1.000m mới sang được bờ bên kia. Lạ là ở chỗ: Bên nhà, tôi chẳng hề sợ rắn rít, bò cạp, nhưng sang đất bạn thì lại sợ! Làm như bò sát, côn trùng ở “nước ngoài” thì đáng sợ hơn! Bên nhà, tôi bơi lội như rái cá, nhưng khi thò chân xuống con suối giữa rừng đất bạn thì tôi rúm lại như phía dưới làn nước kia là nhung nhúc hàm cá sấu đang chờ. Đất Campuchia trong ký ức tôi chỉ là một sự xa lạ và đáng sợ.

1. Angkor :

Đường vào khu di tích quần thể Angkor thật dễ chịu và thơ mộng. Rừng xanh cây cối thật hiền. Cambodia có nhiều cây cổ thụ, dấu ấn rừng già vẫn còn bao phủ quanh làng mạc đường xá. Hiện nay, cả khu quần thể Angkor được Sok Kong - một nhà kinh doanh (gốc Việt Nam , quê ở Đồng Tháp) là người giàu nhất Cambodia bảo thầu. Cả khu di tích sạch sẽ, thoáng đãng, chỉ thu tiền vé của khách nước ngoài, người bản xứ thì tha hồ mà ngắm nghía kỳ quan của tổ tiên để lại. Tự do, thoải mái.

Cây thốt nốt được xem là một biểu tượng của Cambodia . Mà lạ, những cây thốt nốt dù đứng gần nhau vẫn gây cảm giác lẻ loi, có lẽ do cấu tạo cây gọn gàng, không có cành nhánh rườm rà như những loài cây khác. Cây thốt nốt có cả cây đực và cây cái, cây đực có hoa và cây cái có quả, người ta lấy nước từ hoa của cây thốt nốt và nấu thành đường. Đường thốt nốt ngọt và béo, rất thơm, đậm đà. Có thể nói đây là loại đường ngon và đặc biệt nhất thế giới. Rất tiếc, người Cambodia không biết quảng bá và kinh doanh mặt hàng này. Đứng nhìn cây thốt nốt, một cảm giác lạ lùng khi liên tưởng đến sinh, tử, mất, còn: Ngày trước, quân Pôn Pốt đã dùng bẹ cây thốt nốt (có cạnh răng cưa rất sắc) để cứa cổ người cho đến chết! Thật dã man!!! Hoa và quả của cây thốt nốt phảng phất dáng dấp hình tượng linga và yoni mà hầu hết các đền đài ở Angkor đều có. Thậm chí ở sông Kbal Spean (cách Angkor khoảng 20km) – người ta còn gọi là dòng sông một ngàn linga, bởi có hàng ngàn ngẫu tượng linga và yoni được tạc thẳng xuống nền đá dưới lòng sông dài hơn 4km (công trình này được thực hiện trong khoảng thời gian hơn một trăm năm). Ngày nay thì hầu hết các linga ở quần thể Angkor đều bị lấy cắp, chỉ còn trơ lại nền đá yoni với cái hố tròn của linga để lại, tối thẳm.

* Kỳ vĩ Angkor wat!

Cả khu đền được bao quanh bởi hào nước rộng, nước sạch và trong vắt, cây rừng rợp bóng xung quanh. Angkor sừng sững, hùng vĩ và hoành tráng, xám trắng uy nghi giữa xanh nước xanh rừng. Bầu trời ở đây dẫu thay đổi theo thời tiết, mùa, ngày, nhưng chắc là thường xuyên bị nhuốm bởi một vùng màu sắc Angkor như xa như gần như thật như tranh. Thật may là tôi đã được nhìn ngắm Angkor trong mưa và trong nắng (dẫu chỉ được ghé qua chưa đầy 100phút!).

Trong nắng: Nhìn xa Angkor trong veo bởi bóng soi hào nước, góc độ nào cũng đẹp! Angkor wat là ngôi đền duy nhất được xây quay mặt về hướng Tây. Buổi sáng, mặt trời hiện lên từ sau những ngọn tháp, ánh nắng rực rỡ của bình minh sẽ mang đến cho ngôi đền một thứ ánh sáng kỳ lạ, hớp hồn người nhìn ngắm nó. Buổi chiều, trước khi tắt nắng, mặt trời ngoái nhìn lại Angkor, bốn tấm gương vĩ đại là các hào nước xung quanh sẽ lưu giữ ánh sáng để trong bóng hoàng hôn Angkor vẫn đủ rạng ngời. Nhìn gần, Angkor chi tiết đến rợn người. Ôi, đá! Là đá ư? Sao đá mềm đến vậy? Những họa tiết hoa văn như vẽ bằng bút giản đơn. Ngày xưa, Michelangelo (danh họa người ý) vẽ trên trần nhà thờ Sistine, nghe nói ông đã phải nằm và ngửa cổ lên để vẽ trong hàng chục năm trời như thế, đến mức bị bệnh ngoẹo cổ vĩnh viễn. Nhưng đó là vẽ, còn đây là chạm đá, ắt hẳn là không thể nằm ngửa để đục đẽo rồi, nhưng nếu chạm xong mới đưa lên nối ráp với nhau sao lại liền lạc tinh vi đến thế? Thật kỳ công! Nhưng thôi, những giả thuyết hãy dành cho những nhà nghiên cứu, ta chỉ có thể nghiêng mình thán phục và ngẫm suy.

Trong mưa: Nhìn xa, Angkor như phủ lụa. Những đường nét nhấp nhô (theo hình tượng núi vũ trụ Mêru) vẫn chẳng mờ trong làn nước trắng. Nhìn gần, từng giọt nước rớt vào mặt đá, đá chẳng núng nao, giọt nhỏ thì đá nhẹ nhàng thấm, chảy; giọt to thì bị dội ngược lại, văng ra, có quan sát thâm trầm cảnh ấy mới hiểu thế nào là đá cứng. Dù biết thế, sao vẫn nghĩ mà thương biết mấy Angkor hơn ba trăm mùa mưa gió, đứng lặng im cho mưa lạnh xối trùm, quạnh quẽ giữa rừng già chỉ có tiếng chim kêu vượn hú. Ờ, mà coi chừng lãng nhách. Hổng chừng 3 thế kỷ ấy lại là những tháng ngày nhẹ nhàng, yên tĩnh thú vị nhất đối với Angkor . Đá có biết buồn không khi đá vốn ngàn năm lặng lẽ? Lúc đá đang là núi thì mấy ai nghĩ đến chuyện đá vui buồn, làm như khi đã bị đục đẽo tan nát ra rồi đá mới có tâm hồn của đá. Chợt hiểu ra một chút nữa cụm từ “bản lai diện mục” của nhà Phật.

Thật khó hiểu vì sao người Cambodia lại có thể lãng quên, như chẳng hề biết mình đã có những đền đài kỳ vĩ như vậy. Ôi, hơn 3 thế kỷ ngủ yên trong rừng thẳm, Angkor như thế nào hở Angkor ? Tôi đứng lặng trước những hành lang đá, tranh thủ tìm cho mình vài giây trong góc khuất để lắng nghe cảm giác dâng trào đến rưng nước mắt. Hỡi người xưa! Có biết bao điều mà những thớ đá kia đã từng chứng kiến. Nền đá giờ khuyết mòn loang lỗ bởi sau những dấu chân của thời đại huy hoàng là hàng trăm năm hoang vắng, những dãy hành lang đã lấp dầy những lớp phân dơi và các loài thú hoang trong giấc ngủ dài nơi rừng thẳm của Angkor !

Ngày nay, Angkor lại ồn ào rộn rịp bởi hàng triệu bước chân du khách từ năm châu bốn bể. Trong hàng triệu bàn chân ấy, không biết có bao bàn chân sẽ truyền xuống nền đá Angkor nhịp đập của những trái tim… thân quen? Người xưa và người nay, ai mà biết được, có vòng luân hồi nào cho sự gặp gỡ, tái ngộ duyên nợ ngàn đời?? Các công trình vĩ đại trên thế giới đã do biết bao bàn tay xây dựng, và đời sau, cũng có biết bao bàn chân trở lại viếng thăm, có mối liên quan nào không trong vòng quay của thời gian huyền bí… hỡi con người???

* Ấn tượng Angkor Thom –huyền bí nụ cười:

Cổng vào Angkor Thom rất ấn tượng với hai hàng tượng đá to lớn, một bên như hình các ông Thiện và một bên như hình các ông Ác, những bức tượng ôm lấy rắn thần Naga khổng lồ, mô phỏng theo thần thoại “Quấy biển sữa tìm thuốc trường sinh”. Tường thành Angkor Thom bằng đá dài 12km bao quanh, bên trong rất nhiều đền đài khác, không thể nào nhìn ngó xuể nếu không được ở lại đây khoảng một tuần.

Có nhiều tư liệu nghiên cứu nói rằng để xây dựng Angkor Thom, người ta đã tốn hàng tấn vàng, hàng vạn viên đá quí cho việc chạm cẩn. Ở đền Taprohm tôi nhìn thấy bốn bức tường trong một gian đền vuông xây không có nóc, còn hàng trăm cái lỗ sắp xếp từ dưới đất lên tận trên cao, mỗi lỗ bằng khoảng nắm tay rất đều đặn, người ta bảo đó là dấu tích ngày xưa mỗi lỗ được đặt một viên kim cương, căn phòng sáng chói sẽ hắt ánh sáng lên thẳng bầu trời. Hóa ra người xưa không có điện, cũng biết “sáng chế” ra kiểu đèn dạng tia lade hiện đại ngày nay nhỉ! Quá sang! Lại có một căn phòng vuông nhỏ, tục rằng ngày xưa vua bắt các quan lại, cung tần vào đây, tự vỗ nắm tay lên ngực, nếu nghe tiếng vọng thùng thùng thì đó là người thẳng ngay, chung thủy, nếu chỉ nghe tiếng bình bịch thì là kẻ phỉnh nịnh, bội vong. Ngày nay, du khách vào đây – nhất là quí cô quí bà – ai cũng mắm môi mắm lợi đấm cật lực vào ngực, để tìm một cái “chứng chỉ”, bằng cấp ảo về sự thẳng ngay, chung thủy. Tôi đứng tò mò, nhìn kẻ ra vào tấp nập, ngó các nắm tay thiên hạ đấm liên hồi, chẳng nghe thấy tiếng bình bịch nào, chỉ ầm ĩ thùng thùng “thẳng ngay, chung thủy”! Ai nấy mỉm cười phơ phới… Ơ kìa, hóa ra đời tốt cả! Không biết căn phòng “thẩm định nết người” này ngày xưa đã góp mấy phần vào sự sụp đổ tan rả của triều đại Angkor !!!

Các bức tượng hôm nay chỉ còn lại đá, (ngày xưa, sứ thần Chu Đạt Quan của Trung Quốc ghi lại rằng các tượng Bayon đều được áp vàng) những vàng bạc đá quí đã bị mất cắp không còn gì. Thử tưởng tượng ngày xưa khi còn nguyên vẹn, vào những đêm trăng sáng, đền đài Angkor sẽ lung linh huyền ảo đến thế nào?

Trung tâm của Angkor Thom là khu đền Bayon với 54 tháp tạc 216 gương mặt người với nụ cười huyền bí đã gây tranh cãi thật nhiều trong giới nghiên cứu. Người ta cho rằng Bayon là kiến trúc lạ lùng kỳ bí nhất, thần tiên nhất..vv…. Vào năm 1925, nhà khảo cổ người Pháp Henri Parmentier phát hiện ra trên mặt Tây của tháp số 47 khuôn mặt của bồ tát Lokesvara, người ta mới tìm ra được tính chất và hình tượng Phật giáo của Bayon. Một số tài liệu cho rằng vua Jayavarman VII là người theo Phật giáo Đại Thừa. Đến đời vua Jayavarman VIII, trở lại với đạo Hindu, và hầu hết những tượng Phật trong đền đài bị hạ bệ, vạt mặt, cắt tai, một số lớn bị chôn vùi, sau này người ta đã tìm thấy những hầm mộ chôn vùi rất nhiều tượng Phật trong vùng Angkor. Có một số tượng còn bị thay đổi thành những nét tượng Hindu. Sau khi vua Suryvarman VIII qua đời, hoàng triều Khmer quay lại với đạo Phật, nhưng là Phật giáo Tiểu Thừa.

Qua những thăng trầm biến đổi, những niềm tin tôn giáo đan chen, đền đài Angkor làm rối lòng những nhà nghiên cứu. Khách viếng thăm đa phần là người “ngoại đạo”, những bài báo viết về Angkor đa số theo cảm hứng chủ quan, hiểu biết qua loa, phần nhiều thêm thắt, đã làm cho Bayon trở nên… chẳng hiểu thế nào! Trước khi đến Bayon, tôi đã lục lạo khắp nơi trên sách vở và trên mạng internet tìm xem những “nụ cười huyền bí” ấy qua ống kính của những nhà nhiếp ảnh. Khi đến Bayon, dẫu chỉ có thời gian đi như chạy, nhưng khi thử chạm tay vào những nụ cười vĩ đại ấy, tôi loáng thoáng nhận ra sự phảng phất của nét Thiền. Mà lạ, khi bước ra xa, ngoái nhìn, tôi bỗng không còn cảm giác ấy, một không khí khác lại phủ trùm lên các ngọn tháp Bayon. Cái dấu hỏi ngày càng lớn trong hành trang. Cho đến bây giờ, khi ngồi viết những dòng này, cái dấu hỏi vẫn khi ẩn khi hiện, khi được vuốt thẳng thành dấu chấm than, khi giản đơn rớt thành dấu chấm, khi lại vặn mình trở về dấu hỏi. Thật phiền! Tôi cũng từng chơi trò lục lọi cảm xúc trước nụ cười bí hiểm của nàng Mona Lisa trong bức họa La Joconde nổi tiếng của danh họa người Ý Leonardo Da Vinci, nhìn ngó bao năm rồi mà cũng hổng biết bà hay ông ấy cười cái vụ gì, cười hay khóc, hoặc chẳng khóc cười? Mặt cứ ngơ ra tha hồ cho thiên hạ tốn hao giấy mực. Ờ cũng ngộ, cái sự khóc thì thiệt giản đơn mà sao cái sự cười thì lại quá ư rắc rối. Mới hay đời đâu đơn giản là khóc hoặc cười! Ôi chao, lý thú và… phát ngán!

* Người xưa siêng thiệt!

Có hai ấn tượng cứ gợi cho tôi sự so sánh lãng xẹt:

Một là cây cầu đá Naga – một cây cầu cổ được xây vào khoảng thế kỷ thứ X, xây bằng đá ong với lan can là tượng rắn thần Naga nhiều đầu xoè ra như nan quạt. Con sông nho nhỏ, hiền hòa cũng như hàng trăm con sông ở quê tôi, vậy mà người ta đã xây lên một cây cầu bằng đá cầu kỳ vững chải đến thế! Tôi cứ liên tưởng đến những cây cầu tre vắt vẻo quê nhà. Lắc lẻo gập ghình vậy mà đã làm nên câu ca dao tồn tại mãi:

Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi

Khó đi mượn chén ăn cơm

Mượn ly uống rượu mượn đờn kéo chơi

(Có dị bản 2 câu sau là: “Khó đi mẹ dắt con đi/ Con đi trường học mẹ đi trường đời”. Có dịp, tôi sẽ chuyện trò với bạn về câu ca dao lý thú này. Bạn cũng có thể nghe bàn qua về câu này trong truyện ngắn Mượn của tôi trong blog)

Thật tiếc là tôi không biết gì về văn học Cambodia, không biết các văn sĩ xứ “bạn” có cảm xúc thế nào về cây cầu độc đáo của mình, có như người dân quê tôi xúc cảm về cầu tre cầu khỉ ?(Và ắt hẳn cây cầu vững chắc này của xứ “bạn”, dẫu ngàn năm tuổi nhưng chưa chắc là đã tốn hao giấy mực bằng cây cầu Văn Thánh mới ở TP. HCM xứ Việt Nam ta).

Hai là ngôi đền Banteay Srei với những điêu khắc cực kỳ tinh xảo, còn được mệnh danh là “tràng hoa bằng đá” của nghệ thuật kiến trúc Khmer. Sách Almanach ghi rằng ngôi đền được xây vào năm 968 do vị quan tên là Ingiênavaraha. Banteay Srei được nhà nghiên cứu Glaize đọc là “Tòa thánh của người đàn bà”. Ôi trời, tôi nhón tay sờ vào từng nét hoa văn chạm trổ nhỏ xíu xiu trên đá. Đây là ngôi đền xây dành cho đội nữ binh, có lẽ vì vậy mà người ta điêu khắc như thêu từng mũi kim lên đá. Tôi nhớ đến những ngôi thiền viện ở miền Nam mà tôi rất thích, nơi ấy thật giản đơn, tất là đều rộng trống, tạo cho ta cảm giác buông xả thật nhẹ nhàng. Thật tình tôi không thích sự chi li. Bước vào những ngôi đền thế này tôi luôn có cảm giác nặng nề, ái ngại và u uẩn. (Nếu là kiến trúc sư, chắc tôi chỉ chuyên đi thiết kế xây những hội trường với quảng trường…!)

Angkor còn biết bao điều để nói.

Nếu là các đấng mày râu, ắt hẳn vô số những nàng Apsara diễm kiều tuyệt mỹ sẽ níu giữ ánh mắt và bàn tay của các vị suốt cuộc ngắm nhìn. Mỗi nàng một vẻ, người ta bảo còn có thể phân biệt đến cả những cô đã có hay chưa chồng bằng những đường vân trên phần bụng tượng. Thậm chí tôi còn nhìn thấy một cô Apsara đặc biệt nhất trong Angkor Wat: Apsara thè lưỡi! (chẳng biết sự tích thế nào, chỉ nghe mấy bác chăm chú đứng xem kháo rằng: Cô tiên ấy đang hôn nhau với người tình, bị nhà trời bắt gặp, giáng xuống trần gian, lưỡi chưa kịp rụt vào!!!) Rồi những bức phù điêu dài hàng trăm mét, dẫu am hiểu thật nhiều cũng không thể nào thấu hết những điều đã khắc trên hằng hà sa số đá Angkor ! Rồi những bộ rễ cây trùm lên mái các ngôi đền, hình như thiên nhiên cũng có phần ganh tị khi nghe những lời khen quá mức về đôi tay của con người, nên những cây Tung - đại diện cho cỏ cây rừng rậm, đã làm cái việc chứng minh sự hùng vĩ, sức mạnh của thiên nhiên bằng cách đứng hiên ngang ngạo nghễ trên các nóc đền, xòa bộ rễ hoành tráng xuống đất như bảo rằng : “Này, hãy xem, đây chỉ là vài cái rễ của ta thôi đã to đùng như vậy, xá gì mấy cái đền con con bằng đá xếp mà các ngươi cứ ầm ĩ lu loa…” Dạ. Dĩ nhiên rồi, thiên nhiên không gì sánh được. Nhưng những tảng đá kia cũng có thể mấy triệu năm trước đã từng là kiếp rễ cây; rồi hóa thạch, rồi bị tha về đây đục đẽo… Ôi, chuyện của những triệu năm! Bất giác bốn chục năm tôi thấy mình tích tắc! Vậy mà cũng nhõng nha bày đặt, đi đứng ngó nghiêng rồi bình phẩm huyên thiên… thiệt là xạo ớn!

Nơi này cũng đã được đoàn làm phim của Holywood chọn làm cảnh để quay bộ phim“Bí mật ngôi mộ cổ” không biết chừng nào thì bộ phim “Bí mật Angkor” cũng sẽ được quay về chính nó.

Rồi thì cũng là phim, ảnh ảo cả thôi mà.

2. Hoàng cung, chùa vàng chùa bạc và… casino!

Hoàng cung được xây dựng vào năm 1866, và là nơi làm việc của hoàng gia từ năm 1870. Theo tôi hoàng cung cũng không có gì nổi bật, chỉ có nóc nhà là đẹp, mang dấu ấn kiến trúc Khơmer. Đến hoàng cung, nhớ về Angkor , hồn vía lạc loài rối ren cảm xúc… Có những lúc ta phải bớt ngẫm suy đi, kẻo mà tẩu hỏa nhập ma! Tôi được anh hướng dẫn viên (giám đốc công ty du lịch dã ngoại Lửa Việt) mách cho vào riêng một nơi trưng bày kinh Phật cổ. Căn phòng bày biện có vẻ lu bu. Tượng Phật to nhỏ đủ loại ngổn ngang rối rắm. Một hình tượng dấu chân Phật to lớn chiếm gần hết căn phòng, mang ý nghĩa sâu xa, nhưng những đồng tiền của khách viếng thả lên trên đó lại làm ta khó chịu! Tuy vậy, dù sao thì không khí tĩnh lặng của nơi này (bởi ít người ghé vào đây) cũng khiến tôi dễ chịu hơn. Tôi ngơ ngác nhìn những con chữ lạ được khắc, viết trên nhiều vật liệu, qua thời gian đã ố vàng, hư rách, sắp nát tan, lòng bỗng nao nao. Đây là phút giây hiếm hoi duy nhất đem lại cho tôi chút cảm xúc khi đến viếng hoàng cung. Thắp một nén nhang và tôi trào nước mắt khi cúi quì khấn nguyện: Mong cho giáo pháp của đấng Như Lai được giữ nguyên chân nghĩa, đừng bị hiểu sai lầm!!! Bởi tôi luôn mang nặng cảm giác hoài nghi, hình như thời nay người ta hiểu sai về Phật giáo rất nhiều – ngay cả bản thân tôi nữa, đôi khi hoang mang tột đỉnh!!! Ông nhân viên coi giữ căn phòng lạ lẫm nhìn tôi. Chắc ông ấy lấy làm khó hiểu, chẳng biết cớ gì tôi lại khóc?!

Chùa Bạc như đã đọc (các con số mỗi tài liệu mỗi khác, chẳng biết tin vào đâu), có tượng Phật bằng ngọc bích cao 1m, tôi nhìn thấy ước lượng chắc chẳng đến cỡ đó. Có tượng thần bằng vàng cao cỡ người thật, nặng 90kg, nghe nói được dát bởi hơn 2000 viên kim cương. Nền chùa được lát gạch làm bằng bạc ròng, nghe nói có khoảng hơn 5.000 viên, mỗi viên nặng hơn 1kg. Thật lòng, nếu là người xây chùa đúc tượng, ngọc ngà vàng bạc hay những vật liệu quí hiếm thế gian tôi sẽ chẳng dùng. Hầu hết mọi người bước chân vào đấy mắt chỉ săm soi đếm đo bạc vàng, chẳng ai ngó ngàng đến mặt mày thần phật ra sao! Người ta xuýt xoa cùng vàng với bạc, run rẩy trước kim cương; chút niềm thiêng nằm vơ vất phía bên ngoài cùng giày dép.

Và, phía bên ngoài ấy là những góc ăn chơi hoành tráng chắc cũng được nhiều người quan tâm không kém Angkor . Cambodia gia nhập WTO từ tháng 9-2003, và hệ thống casino cũng mọc lên đủ làm giật mình giới “cơ rô chuồn bích” cả vùng châu Á. Tôi giấu tạm ngấn phèn trên móng chân “Hai Lúa”, xỏ giày bước thử vào cái gọi là sòng bạc – casino. Casino Naga ở thủ đô Phnom Pênh với thiết kế mái vòm là một bầu trời xanh cao rộng lãng đãng những áng mây trắng bồng bềnh. Bị bao vây giữa đủ thứ mà ngước nhìn lên thì cứ ngỡ là đang ở giữa thênh thang trời đất. Tạo cảm giác thiên đường ở một nơi mà có khi là địa ngục(!) nghĩ phát rùng mình! Bước vào đó rồi thì thời gian hoàn toàn ngưng lại. Một thứ ánh sáng lạ lùng và “huyền ảo” không kém Angkor . Tôi có cảm giác như mình rơi vào một thế giới khác. Lạ thiệt, con người!!!

Bước ra từ hoàng cung, chùa bạc và casino, chỉ cần dăm phút thôi là có thể đứng bên dòng Mê Kông vĩ đại. Con sông còn được gọi là “giòng sông Phật giáo” bắt nguồn từ Tây Tạng chảy qua 6 nước (Trung Quốc, Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cambodia và Việt Nam) Nơi đặc biệt nhất của Mê Kông là Biển Hồ, và giòng Tonle sap – con sông duy nhất trên thế giới không chảy ra biển. Có lẽ tôi sẽ quay trở lại riêng với Mê Kông ở đoạn này trong một bài viết khác, bởi từ nơi đây đã đem đến cho tôi giòng nước sông Tiền mà cả tuổi thơ tôi vẫy vùng trên đó.

Và ngẫm nghĩ:

1. Với kỳ quan

* Dầu hỏi thứ nhất:

Chắc không ít những người hay đèo bòng, tự hào, tự ái, tự cao, tự ti… Khi đến Angkor , sau khi thấy “cơ ngơi” của người sẽ quay lại đo đếm “tài sản” của ta, sẽ “đua đòi” hỏi lại ông bà tiên tổ: “Sao nước mình hổng có kỳ quan?” Đó là câu hỏi vô duyên nhất, chẳng khác nào hỏi sao mình là con của người này mà không là con của người kia. Và ắt hẳn cũng đã có những câu trả lời… lãng òm không kém. Thậm chí có những “sĩ nhân” có câu trả lời hơi mang “phong cách” AQ rằng: chỉ ở những nơi sinh ra những vì vua cực ác mới có những kỳ quan, bởi đã không thương tiếc sức người, đổ máu xương vào xây dựng. Tóm lại, theo tôi, hỏi hay trả lời đều lãng nhách. Chợt nhớ chuyện tích trong nhà Phật: Trên núi Linh Thứu, giữa hội chúng đông người, Phật đưa ra một cành hoa sen, không hỏi gì, cả hội chúng không ai hiểu, chỉ riêng ngài Ca Diếp mỉm một nụ cười. Và Phật đã ấn chứng cho Ngài Ca Diếp (2). Vậy thôi, không dùng ngôn ngữ để hỏi, cũng không dùng ngôn ngữ để trả lời. Bản chất sự vật vốn như nó vậy, không vì những lời bình phẩm, sự đánh giá, xếp đặt của người đời sau mà sự vật khác đi. Mỗi thời đại có thể khoác lên cho sự vật một lớp áo, một cái nhìn mang dấu ấn chủ quan của thời đại đó, nhưng rồi thời gian sẽ điềm nhiên phủi đi lần lượt. Chợt nhớ hai câu thơ của Trần Đăng Khoa: “Cái còn thì vẫn còn nguyên/ Cái tan thì tưởng vững bền cũng tan”. Đứng trước kỳ quan (không riêng gì Angkor ) có lẽ chỉ nên thốt lên như thế!

*Dấu hỏi thứ hai:

Người xưa như thế nào? Đứng trước Kim Tự Tháp, Angkor hay nhiều kỳ quan cổ khác, ắt hẳn chúng ta sẽ tự thầm hỏi thế. Người xưa đã sống ra sao? Nghĩ gì? Toan tính chuyện chi? Làm sao có khả năng như vậy? Con người hiện đại lắc đầu trước những kỳ quan: không giải thích được nhưng không tin những lời giải thích khác. Thiên hạ đa phần là vậy. Thấy mà còn nghi ngờ huống là không thấy. Thấy mà vẫn nghi ngờ nói lên sự tỉnh giác cao độ của con người (nghĩa là trong sâu thẳm nhận thức, con người vẫn thấu lẽ vô thường nên biết nghi ngờ ngay cả điều đã thấy). Thế nhưng con người lại luôn sa vào sự thiếu tỉnh giác (vẫn cứ mắc vào những thứ phù du). Tôi chợt nhớ câu chuyện nhà Thiền: Có người hỏi thiền sư Triệu Châu: “Con chó có phật tính không?” (chữ phật này tôi không viết hoa) Ngài đáp: “Có”. Sau đó lại có người hỏi: “Con chó có Phật tính không?” (chữ Phật này tôi viết hoa) Ngài đáp: “Không”. Câu chuyện này có nhiều tầng ý nghĩa, ở đây chỉ tạm nói về một góc ý nghĩa: Tôi hiểu phật tínhgiác ngộ tính, tất cả chúng sinh đều có khả năng giác ngộ nhưng do sự mê mờ che lấp mà trở nên vô minh, không thấy Phật tính. Cũng vậy, những khả năng mà người xưa đã thể hiện, khiến chúng ta ngày nay phải tròn xoe mắt thán phục, chẳng hiểu vì sao. Khả năng ấy tôi nghĩ chúng ta cũng có, nó nằm đâu đó tiềm ẩn trong ta, sở dĩ con người chúng ta ngày nay không làm được như người xưa là do sự thoái bộ trong nhiều mặt – cũng như sức chịu đựng, sức đề kháng của con người hiện đại ngày càng thấp hơn, tệ hơn người xưa rất nhiều. Trong Phật giáo cũng vậy, thời Mạt Pháp hiếm có người tu chứng được như thời Chánh Pháp. Con người hiện đại hướng ngoại và trông chờ vào ngoại lực (máy móc, các phương tiện kỹ thuật hỗ trợ) nhiều hơn là nội lực. Cái khả năng vô tận của tự thân con người bị lãng quên dần. Con người hiện đại luôn mồm nói về hai chữ TỰ TIN, thật ra, chúng ta ngày nay thiếu tự tin trầm trọng và nếu có chút tự tin thì là tự tin sai lệch, hoặc ảo tưởng chớ không phải tự tin. Con người hiện đại luôn nhào về phía trước như một phản xạ, theo phong trào, mà quên mất “hành trình nội tại”(3) của mình.

Tóm lại, theo tôi, nếu quay lại nhìn vào bên trong, có lẽ con người sẽ hiểu rõ hơn về mọi thứ bên ngoài, và đứng trước mọi sự vật – không riêng gì những kỳ quan – chúng ta sẽ chẳng phải lu bu với những dấu hỏi.

-----------------------------------------------

Chú thích: Bạn có thể xem ké hình ảnh về Angkor ở trang:

http://www.trisanna.com/cambodia.html

(1) Câu thơ của thiền sư Từ Đạo Hạnh:

Có thì có tự mảy may

Không thì cả thế gian này cũng không

………….

Nguyên tác:

Tác hữu trần sa hữu

Vi không nhất thiết không.

Hữu không như thủy nguyệt,

Vật trước hữu không không.

(Có thì muôn sự có,

Không thì tất cả không.

Có, không trăng đáy nước,

Đừng mắc có cùng khôngHT. Thích Thanh Từ dịch.)

(2) Ở pháp hội Linh Sơn, Phật đưa lên cành hoa, tất cả đại chúng đều ngơ ngác, chỉ có Ngài Ca Diếp mỉm cười. Phật nói: “Ta có Chánh Pháp nhãn tạng, Niết Bàn diệu tâm, Thật tướng Vô tướng, Pháp môn vi diệu. Chẳng lập văn tự, truyền riêng ngoài giáo, nay phó chúc cho Ma Ha Ca Diếp”. (Theo Phật giáo Bắc Tông, Sau khi Phật Niết Bàn, ngài Đại Ca Diếp được tôn vinh làm sư tổ; Phật giáo Nam Tông thì tôn vinh ngài Ưu Ba Ly làm sư tổ)

(3) Hành Trình Nội Tại - cuốn sách được dịch từ The Inner Journey của OSHO, có 8 chương, gồm những bài nói chuyện của OSHO tại trại thiền Ajol từ ngày 3 tháng 2 đến ngày 5 tháng 2 năm 1968, nguyên gốc bằng tiếng Hindi, được dịch sang Anh ngữ bởi Antar Yatra. Osho coi thân thể con người như một chiếc đàn mà nếu không biết sử dụng sẽ không phát ra nhạc, vấn đề được đưa ra là giải thoát con người khỏi những ảo tưởng hay niềm tin sai lầm và cách đối phó với tâm trí dao động để cây đàn ấy không bị im tiếng 

XEM THÊM: http://www.dunglac.net/bai/Nghiem-angkor.htm

 


Các bài khác cùng chủ đề:
 
 
Thông tin sáng tác
Thư viện văn
Thư viện thơ
Tìm hiểu Phật giáo
Ý kiến bạn đọc
Thông tin từ thiện
L
I
Ê
N
H

T
G
 
Links đọc web
Tuổi trẻ
Thanh Niên
VietNamNet
Hội nhà văn VN
Hội nhà văn TP.HCM
Văn nghệ SCL
SG Giai Phong
Người Lao Động
Lao Động
Vnexpress
TTXVN
Hà Nội Mới
Tiền Phong
Nhân Dân
CA Tp HCM
CA Nhân Dân
Quân Đội ND
VTV
HTV
VNN Televison
HTV Hà Nội
TV Trực tuyến
Đài Tiếng Nói VN
Đài Tiếng Nói TPHCM
Dân Trí
24 Giờ
Tạp chí Lao Động
Tạp chí Gia Đình
VN Media
Tin tức Online
Đọc báo trực tuyến
Thời Báo SG
SG Tiếp Thị
Doanh Nhân SG
Diễn Đàn DN
Kinh Tế Đô Thị
Thời báo kinh tế SG
Thời báo KT Việt Nam
Báo
Báo Mua & Bán
Cẩm nang mua sắm
Sài Gòn News
Tạp chí VHNT ăn uống
Tạp chí Sành Điệu
Tuổi trẻ Cười
Báo Ảnh VN
Tạp Chí Đẹp
TC Kiến Trúc Nhà Đẹp
Tạp chí Tia Sáng
Thế hệ 8x
Báo Mực Tím
Sinh Viên VN
Thiếu nhi Tp
E Chíp
PC World
Ca dao
Thời văn
Tiền vệ
Bách hoa cung
Thơ trẻ
VN thư quán
báo Cần Thơ
Huế (cố đô)
Tạp chí Sông Hương
Giáo dục&thời đại
Đồng Tháp
VN Đồng Tháp
Báo Đồng Nai
Báo Khánh Hòa
Báo Bình Định
Báo mới
Ngôi sao
Dưỡng sinh
Vieshare
Tin tức - BBC
Tìm nhanh
Web tìm kiếm Google
THƯ VIỆN HOA SEN
ĐẠO PHẬT NGÀY NAY
THIỀN TÔNG VIỆTNAM
THIỀN SƯ NHẤT HẠNH
CHUYỂN PHÁP LUÂN
BÁO GIÁC NGỘ
PHẬT TỬ VIỆT NAM
VĂN HÓA PHẬT GIÁO
QUẢNG ĐỨC
BUDDHA SASANA
LOTUSMEDIA
PG NGUYÊN THỦY
DIỆU PHÁP ÂM
RỪNG THIỀN ĐẠT MA
PHÁP TẠNG
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
NI GIOI NGAY NAY
PHÁP VÂN
SUỐI TỪ
TTPG-CHÙA VIỆT NAM
TRUNG TÂM HỘ TÔNG
Y hoc cổ truyền
 
© by Thu Nguyet - All rights reserved.
Designed and developed by Nicestyle Co., Ltd.