Deprecated: Function session_register() is deprecated in /home/admin/domains/thunguyetvn.com/public_html/functions.php on line 91 Thu Nguyet Personal Site - Thông tin sáng tác
 
T
R
A
N
G
C
H
Thơ Thu Nguyệt
Văn Thu Nguyệt
Nhật ký tác giả
Viết về tác phẩm TN
Phim về Thu Nguyệt
Tác phẩm Đặng Ca Việt
 
 
Giới thiệu
QUỸ KHUYẾN HỌC
TÂM MINH

Ai ơi về
ĐỒNG THÁP MƯỜI...
ĐỊA CHỈ
QUÁN CƠM CHAY
QUÁN ĂN CHAY

Quảng Cáo
Khu nghỉ dưỡng & điều trịỊ
THIỀN TÂM
Thông tin sáng tác - NGHIÊN CỨU-TRAO ĐỔI-GIỚI THIỆU - Xem nội dung bài viết
Thơ - viết và nghĩ (bài 1-5) - INRASARA

 
 
Inrasara

THƠ, VIẾT & NGHĨ....    
                                   

 

01 – Nhà thơ và vấn đề lí luận  

 

              Christofer Fredriksson trả lời báo Thể thao-Văn hóa, số 142, 28.11.2006: “Ý tưởng dường như có tính tiên quyết, xem người nghệ sĩ làm gì và làm như thế nào với tác phẩm của mình, để làm sao cho tác phẩm ấy có hiệu quả nhất khi đến với công chúng. Nhưng dường như ở Việt Nam các nghệ sĩ ít thích bàn về điều này, họ thường thích làm tác phẩm hơn là nói về các tác phẩm của mình. Họ cho rằng tự tác phẩm đã nói lên điều đó. Nhưng ở trường chúng tôi lại khác, khi một nghệ sĩ làm nghệ thuật thì điều đầu tiên họ phải được học về các vấn đề lí luận nghệ thuật. Sau đó họ bắt đầu viết các dự án nghệ thuật thành các bài viết, rồi mới đến công việc thực hiện các ý tưởng đó. Công việc này được lặp đi lặp lại trong các năm học. Do đó khi một người nghệ sĩ ra trường có nghĩa là họ đã có một năng lực lí luận nhất định”.

       Ít bàn, ông nói, nhưng thực ra là: không bàn, không muốn bàn, không dám bàn vì, không khả năng bàn, thậm chí – dị ứng với lí luận. Người làm văn học-nghệ thuật chúng ta luôn dừng lại ở phong trào là vậy. Đa phần nhà thơ Việt Nam luôn chịu định mệnh một tác phẩm, một bài thơ, là thế. Không thể đi xa…

             Không ít sáng tác có dấu ấn là sáng tác ăn may, ăn mòn vào năng khiếu “trời cho”. Trời cho tới đâu hay tới đấy, chúng ta thói quen nói như vậy! Một nhà thơ ăn may, thì nó sẽ đến đâu? – Bế tắc!

              Văn hóa văn chương [Việt Nam ] đã góp công sức không nhỏ vào bế tắc của kẻ sáng tạo. Trong kì Đại hội Những người viết văn trẻ năm 2000, hầu hết các nhà văn nhà thơ khi được hỏi về nghề viết đều đồng loạt quan niệm [hoặc không quan niệm gì cả] văn chương là trò chơi. Nhất là nhà thơ.

              Thứ văn chương-trò chơi ấy chính là con/cha đẻ của nền văn học được một nhà phê bình gọi là văn học nghiệp dư, không hơn. Trong lúc, tinh thần chuyên nghiệp khác hẳn tinh thần nghiệp dư ở chỗ nó “đề cao yếu tố kĩ thuật” thay vì tùy thuộc vào cảm hứng, “gắn liền với tinh thần nghiên cứu” thay vì tin cậy vào kinh nghiệm, “luôn luôn có tính tự giác cao (…) trong khi đó, buông thả theo thói quen, tinh thần nghiệp dư lại đầy tính chất tự phát” và nhất là, tinh thần chuyên nghiệp mang tính cạnh tranh chứ không làm qua loa đại khái, rất trung bình.

               Nghiệp dư – ta chưa bao giờ suy tư qui mô về nghệ thuật, suy tư có tính nền tảng và rốt ráo: Viết là gì? Tại sao viết? Nhà văn là ai?,… Các trào lưu văn học nghệ thuật nẩy nở và phát triển sôi động ngoài kia cứ là không là gì cả, với ta. Chương trình văn chương các Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn [có thể kể luôn Trường viết văn Nguyễn Du nữa] không thèm biết đến sự có mặt của chúng trên thế giới nữa là!

                  Nhiều nhà thơ [chuyên nghiệp] phương Tây luôn mang ở tự thân khả tính phê bình hay đồng thời là một nhà phê bình,  thậm chí – một nhà mĩ học. Còn ở ta thì sao? Dừng lại ở một nhà thơ [kiêm nhà báo], lại là một nhà thơ nghiệp dư, không nhích lên phân tấc.

   

02: Truyền thống  

               Chúng ta thường nói đến truyền thống Đông phương, cụ thể hơn: truyền thống văn hóa Việt Nam . Các cách tân  “ học đòi” không phù hợpvới văn hóa người Việt.

Nhưng thế nào là bản sắc, truyền thống?

                  Thử hỏi thơ Đường luật trước đó có là truyền thống Việt? Hay Thơ Mới thời Tiền chiến? Bản sắc thơ Việt có cái nào na ná Thơ tự do của Nhóm Sáng tạo không? Hoặc như áo dài, mới có lịch sử chưa tới 100 năm, thì trước đó áo gì là bản sắc? Những ngày đầu tiên của áo dài có là bản sắc?

                  Bản sắc có phải quay nhìn lui về quá khứ hay đi giật lùi về nguồn? Còn phải đi tới đâu mới gặp nguồn như là nguồn? Hỏi ngôi tháp Chàm kia có bao nhiêu phần trăm là Ấn Độ, bao nhiêu là Chăm? Nó được người Ấn mang tới hay do một  nghệ sĩ Chăm nào đó nổi hứng khênh về, không là vấn đề. Nhưng muốn được là tháp Chàm, người nghệ sĩ đã phá nhiều, rất nhiều (tiếp thu sáng tạo, như chúng ta dễ dãi nói thế). Trong hành động “phá” này, vô thức (bản sắc cũ) và ý thức (tài năng nghệ sĩ) cùng có mặt. Tài năng cá nhân càng lớn thì phần “phá” càng vượt trội. Một khi có đột biến trong sáng tạo, chúng ta gọi đó là thiên tài.

             Như vậy, bản sắc chính/đa phần là cái gì đang chuyển động hình thành chứ không/ít là cái đã đóng băng. Mà muốn làm nên bản sắc, con người sáng tạo phải thật sự dũng cảm. Biết và dám khênh về là dũng cảm, dám và biết “phá” càng dũng cảm trăm lần hơn. Bởi mãi lo khư khư ôm lấy bản sắc [cũ], chúng ta đã tự cách li và cô lập mình với xung quanh. Và, chẳng nhích lên tới đâu cả!

                   Nữa: thế nào là phù hợp? Chúng ta thử quá bộ vào một phòng triển lãm tranh Cổ điển, dù trình độ nghệ thuật hạn chế tới đâu ta cũng có thể mơ hồ nhận ra bức này đẹp [giống], bức kia xấu [không thật]. Rồi, thử dời gót sang phòng tranh Lập thể, chắc chắn ta sẽ rối mù lên mà coi! Mà lập thể đã có mặt ở phương Tây gần thế kỉ rồi chứ ít ỏi gì cho cam. Một khi chưa biết gì về hệ mĩ học của trường phái Lập thể, ta không thể hiểu, không thể thưởng thức thì có gì đáng trách. Trách chăng khi ta đứng giữa phòng triển lãm kia và la lối rằng bọn họa sĩ phương Tây vẽ rối mò, cái nào cũng như cái nào, tôi chẳng hiểu gì sất!

              Đâu phải cả trăm bức tranh mới lạ kia đều đẹp. Muốn thưởng thức nó, và nhất là muốn biết nó đẹp/xấu thế nào, cần được kinh qua trường lớp, bằng tiếp xúc thường xuyên, nhất là qua giới thiệu phân tích của các nhà phê bình tay nghề cao. Không thể khác! Nhìn từ hướng ngược lại, chính bởi người đọc chưa được trang bị tri thức căn bản về phong trào văn nghệ mới, nên họ mới dễ bị kẻ cách tân dỏm lừa mị và qua mặt.

               Trường hợp của Lãng mạn và Hiện thực cũng thế.

                Thử điểm qua vài giọng thơ Việt của thế hệ qua đính kèm vài phản ứng của các đại biểu của chúng. Tại sao các thế hệ thơ không thể chấp nhận nhau, dù họ đều là trí thức hàng đầu ở thời đại họ? Nhà thơ hàng đầu nữa! Huỳnh Thúc Kháng, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Quang Thiều, cho đến Đinh Linh,....

                 Điều đáng nói là chớ vì thế mà có ý định loại trừ các sáng tác khác lạ ra khỏi đời sống văn chương. Hãy để cho các hệ mĩ học sáng tạo cùng tồn tại, cạnh tranh và phát triển. Cuộc cạnh tranh thơ ca hôm nay cũng thế, nó cần có môi trường lành mạnh, để các giọng thơ, các trào lưu, hệ mĩ học khác nhau cùng tồn tại và tranh đua, đẩy nền thơ ca Việt dấn tới.
             Môi trường lành mạnh chính là diễn đàn công khai. Dù đại bộ phần sáng tác hậu đổi mới đã có đất sống trên website văn học cả trong lẫn ngoài nước nhưng chính diễn đàn công khai mới mang yếu tố quyết định tạo nên cuộc thay đổi lớn trong văn học. Đâu phải cái mới nào cũng hay, khả năng chinh phục được người thưởng thức nghệ thuật. Ngay thời Thơ Mới, Hoài Thanh phải đọc và sàng lọc cả mấy vạn bài thơ mới mới chọn ra được vài trăm bài ưng ý (mà chắc gì Hoài Thanh đã có lí hết). Hôm nay không là ngoại lệ: các bài thơ Tân hình thức hay Hậu hiện đại cần được xuất hiện ở các mặt bằng thông tin đại chúng, hay ít ra nó phải được dành cho một số trang nhất định trong các tạp chí, báo chuyên văn chương. Để làm cuộc chinh phục người đọc của mình. Qua đó, người đọc mới có thể phân định cái hay/dở của chúng. Nếu chúng dị hợm, học đòi vô lối thì chúng sẽ tự loại mình ra khỏi cuộc chơi. Không vấn đề gì cả.

              Và rồi, chính thành tựu từ nỗ lực chối bỏ truyền thống hôm nay sẽ làm nên bản sắc độc đáo cho ngày mai.


 03: Các trào lưu văn chương


               Về các trào lưu văn chương đã bị thải loại ở phương Tây, nay được các nhà cách tân trong nước học đòi theo, sao lại kêu là mới?

                    Đó là câu hỏi thường bắt gặp rải rác trên các trang báo, phát biểu bới chính các nhà thơ, có khi là nhà thơ khá nổi danh.

                Chúng ta mang vác thứ tâm lí rất lạ! Khi có vài trí thức phương Tây làm chuyến “Hành trình về phương Đông” hay đi tìm “Địa đàng ở phương Đông” thì ta mừng rơn, như thể phương Đông đang lên giá ghê gớm lắm, nên Tây phương đổ xô đi học lại giá trị văn hóa cổ truyền của phương Đông. Còn nếu có xu hướng ngược lại, thì mình vội la lên rằng con cháu hôm nay chối bỏ quá khứ với lai căng, mất gốc!

                   Nhưng, thế nào là vứt? Mà vứt ở mô? Các phong trào văn nghệ nẩy nở, phát triển rồi suy tàn có phải là vĩnh viễn bị chôn vào nghĩa trang văn chương như lâu nay chúng ta quan niệm và thích thú mỉa mai đầy ngây ngô không? Thử nhìn xem phong trào Siêu thực: nó thực sự chết khi thế chiến thứ hai bùng nổ, nhưng bút pháp Siêu thực vẫn còn được nhà thơ các nơi vận dụng dài dài đấy chứ!

                 Nữa: thế nào là cũ? Phong trào Tân hình thức và chủ nghĩa Hậu hiện đại, với tư cách là lí thuyết, chỉ mới ra lò ở phương Tây 20-30 năm nay thôi, và đang thịnh hành; trong khi thành tựu của Thơ Mới đã làm cuộc cách mạng lay chuyển nền thơ ca Việt Nam, không phải các nhà thơ ta học lại từ chủ nghĩa Hiện thực, Lãng mạn hay Tượng trưng Pháp, cũ gần thế kỉ đó sao?

                    Tại sao sợ học, sợ ảnh hưởng? Có cái gì mà không lai căng? Nếu không “lai căng” thì làm gì có chuyện tiếp biến văn hóa? Ôm khư khư cái mình có, có phải là đậm đà bản sắc? Xin mời bạn thử đứng ngoài đường mà ngó quanh mình!

               Với một nước đang phát triển như Việt Nam , xài đồ nghĩa địa, hàng si-đa là điều khó tránh khỏi. Các thứ cũ người mới ta ấy lại đáp ứng kịp thời nhu cầu của số đông, và cho ta kinh nghiệm tốt để xài hàng mới.

              Chớ nói rằng sản phẩm của sự tìm tòi, cách tân này chưa tới đâu. Một nghệ sĩ sáng tạo nếu biết mình tới đâu thì có còn hứng thú sáng tạo không? Và nếu biết được “định hướng và đích đến” – thì hết là sáng tạo rồi còn gì. Ngay Nhóm Sáng tạo, khi bắt đầu cuộc cách tân thơ ở miền Nam trong những năm 60, cũng đâu biết mình sẽ làm mới từ đâu và tới đâu! Mới, theo họ đơn giản là cắt đứt với cái đã có. Mới của Thơ Mới thì đã khác với thơ Đường luật hay Hát nói. Mới trong Thơ Sáng tạo là phải khác với “mới” của Thơ Mới. Mới trong thơ hôm nay là tìm lối đi khác lối đi mà đàn anh đã đi hôm qua. Đừng nói cho to tát: chôn phứt quá khứ để lên đường. Mỗi thế hệ hãy nỗ lực làm khác đi. Thế thôi!

 

 

 04: Khủng hoảng người đọc



              Thói quen thơ: từ thể thơ: lục bát, 5-7-8 chữ, hay thơ tự do có vần/điệu… cho đến hệ mĩ học: Cổ điển (Trung Quốc), Lãng mạn, Hiện thực,… quy định lối thưởng thức thơ của chúng ta. Bài/tập thơ nào vừa vặn với tầm mong đợi, vùng thưởng ngoạn của mình thì được cho là hay.

          Câu hỏi đặt ra: thế nào là hay? Tại sao các thế hệ/trường phái thơ không thể chấp nhận nhau? Cụ Huỳnh Thúc Kháng đòi đánh roi Lưu Trọng Lư; rồi trong khi Xuân Diệu cho thơ Nguyễn Đình Thi lủng củng thì Trần Mạnh Hảo kêu đích danh thơ Nguyễn Quang Thiều là loại “thơ giả cầy, thơ dịch” mà, dịch rất tồi! Và, không ít đại biểu thơ hôm nay không chịu được loại thơ như Đinh Linh! Cứ thế… Do đó, cách tân thơ đòi hỏi người đọc phải thay đổi những quy ước trong cảm thụ, quan niệm về thơ.

          Nhưng, độc giả [văn chương] hôm nay đang ở đâu? Họ đã chuẩn bị được gì, để đón nhận sáng tác mang trong mình khả tính cách mạng?

          Các thế hệ độc giả hôm nay và cả tương lai gần chưa được chuẩn bị tinh thần đón nhận cái mới [nên mỗi lần đọc phải cái xa lạ, cái ngoại nhập là giật mình thột], chưa tự/được trang bị tri thức cơ bản để hiểu cái mới [đã không ít người cổ vũ cái mới nhưng bởi lí giải thiếu thuyết phục nên người đọc càng dị ứng với cái mới hơn]; bên cạnh đó, thông tin đại chúng ta không công nhận (in, đăng báo, giới thiệu,…) các sáng tác mới, người đọc không thể tiếp nhận chúng thì có chi lạ!
         Độc giả văn học, bởi thế, cứ nếp cũ mà thưởng thức thơ. Và dẫu có được chuẩn bị, họ vẫn cứ vướng kẹt: tinh thần tiếp nhận. Bởi ngay nhà phê bình thơ bậc thầy như Hoài Thanh hay nhà thơ tài hoa như Xuân Diệu cũng rất dị ứng với sáng tác thuộc hệ mĩ học khác mình: Tượng trưng [phần nào Siêu thực] của Đinh Hùng, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Xuân Sanh! Khía cạnh này, có thể viện đến não trạng hay cái gu thưởng ngoạn thơ. Ai dám cho Xuân Diệu hay Hoài Thanh không hề biết tới Chủ nghĩa Tượng trưng hay Siêu thực?! 

             Một khi không thích loại thơ nào đó, thường thì người ta hay lôi độc giả ra để làm bình phong cho chủ quan của mình. Và số đông quay ngược lại tin vào bình phong đó. Nhưng xin hỏi: độc giả là ai? mà độc giả nào? mắc mớ gì họ phản ứng?

               Hãy nhớ lại: Thơ Mới được đăng tải thoải mái trên các báo chí thời chế độ thực dân Pháp mà không bị một trở ngại bởi phép tắc ngẫu hứng qua cầu nào! Và, yếu tố cần thiết cuối cùng tạo nên thành công lớn của Thơ Mới là: độc giả. Người đọc tương lai của Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, …đã được làm quen với các tên tuổi như: Lamartine, Hugo, Musset, Vigny, Rimbaud, Baudelaire,…ngay từ thuở ngồi ghế trung học. Được trang bị như thế, họ không vồ vập đón nhận những Thơ thơ, Gứi hương cho gió, Lửa thiêng, Tiếng thu, Điêu tàn hay Thơ say,… mới là chuyện lạ đời! Cho nên Thơ Mới, dù bị các cụ đồ Nho phản đối kịch liệt lúc mới xuất hiện, nó vẫn làm nên cuộc cách mạng lớn trong thơ Việt.

                  Còn hôm nay thì sao? Chúng ta đón tiếp và đãi cơm các sáng tác Tân hình thức với Hậu hiện đại chủ nghĩa như thế nào? Đó là chưa nói kẻ phiêu lưu làm mới có nhiều nhặn gì đâu. Số lượng thua xa thời Thơ Mới, trong khi dân số Việt Nam lên gấp 4 lần, số người đi học lại gấp 40 lần. Mà ít người làm mới, thì nói gì tới/làm sao đủ số lượng để sàng lọc. Nhưng, sao cứ đòi thơ Tân hình thức hay ngay từ buổi đầu nó chập chững ngơ ngác?

   

05: Cách mạng nghệ thuật, nhìn từ hội họa… 

             Dấu hiệu chủ nghĩa hiện đại trong nghệ thuật manh nha từ Monet, xuất phát từ một quan niệm. Monet cho rằng sự vật biến đổi theo ánh sáng và bị tác động bởi chuyển động nhanh. Năm 1863, bức họa Bữa ăn sáng trên cỏ ` Manet “gây ra một cuộc tranh luận sôi nổi giữa những người bênh vực truyền thống kinh viện và các văn nghệ sĩ trẻ” (M.Fragonard, 1997). Rôi 10 năm sau, trưng bày bức Cảm giác, rạng đông (1872), Monet tạo sửng sốt cho giới thưởng ngoạn hội họa thời ấy. Bố cục thiếu rõ ràng, không còn sự cân xứng hòa hợp như người ta thường thấy ở các tác phẩm Cổ điển, chỉ có cảnh vật mơ hồ chìm ngập giữa màu sắc chập chờn, u u minh minh. Họa sĩ không còn quan tâm đến đường nét cảnh vật mà chú trọng hiệu ứng quang học trên cảnh vật. Trường phái Ấn tượng tạo bước ngoặc lớn trong thể hiện hiện thực. mở đường cho sự bùng nổ trường phái hội hoạ hiện đại sau đó.

                   Nhưng phải đợi đến năm 1907, khi Những cô gái ở Avignon của Picasso xuất hiện, chủ nghĩa hiện đại mới ghi dâu ấn đậm nét trong lịch sử mĩ thuật. Việc bóp méo hình dạng ở họa phẩm đã tạo sự chuyển hướng mang tính cách mạng, như thể tuyên ngôn về một hình thức hoàn toàn mới của nghệ thuật: một phản biểu đạt mới. Từ đó, liên tục xảy ra cuộc cách mạng lật đổ.

                Cézane xô đổ không gian của các nhà Ấn tượng. Sự vật không còn thuần túy là đối tượng bị nhìn, ở đó còn có cả người nhìn. Tương tác qua lại tạo một hiệu quả của sự tri giác thực tại một cách đặc thù.

                Nhưng rồi, cùng với Braque, Picasso giai đoạn thứ hai đã mở cuộc “tấn công vào mục tiêu của Cézane”. Những hình dáng méo mó và góc cạnh bị “đơn giản hóa thành những khối và mặt phẳng hình học” (R.Appignanesi – Chris Gattat, 1995). Trong mỗi bức họa, xuất hiện nhiều điểm nhìn đồng thời, các chuyển động đan cài vào nhau; ở đó ta thấy sự tổng hợp giữa không gian và hình thể. “Cuộc cách mạng Lập thể là một chấn động mạnh” (Michel Fragonard, 1997). Trường phái này quy tụ nhiều anh tài, phô trương thanh thế và làm mưa làm gió.

                  Cuộc cách mạng vẫn tiếp tục. Vài năm sau thôi, Duchamp không còn “nặn” tượng hay “vẽ” tranh nữa; ông dùng ngay sự vật có sẵn, tước bỏ công dụng của chúng, mang chúng vào phòng trưng bày. Thế là những tác phẩm nghệ thuật ra đời. Tác phẩm Bồn cầu là một trong những kiệt tác đó.           

                Rồi Daniel Buren xuất hiện, đặt dấu hỏi về chính chiến tích oanh liệt của Duchamp: nơi chốn trưng bày tác phẩm có phải là đặc quyền của phòng triển lãm? Tại sao không là khoảng không gian rộng hơn: rạp hát, quán càphê hay công viên,…?

                   Và cuối cùng, chủ nghĩa hậu hiện đại lại mở cuộc công phá mới, khác nữa…

                 Bao nhiêu là thử nghiệm và khám phá! Cái mới luôn kêu đòi cái mới hơn, chen vai thích cánh, cạnh tranh nhau hay xô ngã cái trước đó, hình thành bao làn sóng sáng tạo dồn dập, sôi động vô cùng lí thú. Chỉ cần đặt một dấu hỏi đúng hay thay đổi một mệnh đề, là nghệ sĩ có thể đánh đổ hoặc chuyển hướng một kĩ thuật thể hiện, thậm chí cả một thi pháp, một hệ mĩ học. Chúng đòi hỏi nhà nghệ sĩ/người thưởng thức nghệ thuật thay đổi lề thói tư duy, và có khi – thay đổi cả thái độ sống.

                  Như vậy, mỗi cuộc cách mạng nghệ thuật luôn làm trương nở/nổ tung tầm mong đợi (horizon of expectations) của người thưởng ngoạn đương thời. Chúng đi tìm/tạo ra bộ phận người thưởng ngoạn mới, khác.

                 Chuyển động của thơ ca cũng thế.

                  Chưa đầy hai thế kỉ, nhân loại chứng kiến bao nhiêu là trào lưu ra đời, phát triển và suy thoái. Những Trường Lãng mạn - Romantisme, Trường Hiện thực - Réalisme, Trường Tượng trưng - Symbolisme, Trường Siêu thực - Surréalime, Thơ Tân hình thức - New Formalism, Thơ Mở rộng - Expansive Poetry, Thơ Tân truyện kể - New Narrative Poetry… nẩy nở và phát triển, trùng trùng điệp điệp. Chúng không chết hay bị chôn vùi trong nghĩa trang văn chương chữ nghĩa, như lâu nay chúng ta từng dè bỉu. Cần xem chúng như là những cuộn sóng, những xoáy nước trong dòng sông lớn của thi ca nhân loại. Chúng lặn đi, để sẵn sàng khai sinh đợt sóng mới, đột biến và bất ngờ, góp phần làm nên hình ảnh đẹp của dòng sông. Làm giàu sang biển cả thơ ca nhân loại.

                   Đó là chuyện ở phương Tây. Phương Đông thì sao?

                 Có lẽ trong lịch sử Trung hoa, công chúng văn học đã biết đến vài cuộc thay đổi lớn. Các trường phái triết học hình thành và phát triển qua các thời kì khác nhau hoặc xuất hiện cùng thời và cạnh tranh quyết liệt; thêm các biến động kinh tế-xã hội,… kéo theo sự biến động của văn học. Người viết tiếp nhận tư tưởng mới, đáp ứng đòi hỏi của thời đại cũng như nhu cầu làm mới tự thân, chắc chắn đã có những lối thể hiện mới, khác. Nhưng bởi nguyên nhân khách quan: kĩ thuật in ấn chưa phát triển, thông tin còn hạn chế và nhất là thời đại cũ chưa hình thành lớp độc giả tiêu thụ văn chương nên, văn chương Trung hoa chỉ thay đổi, thậm chí thay đổi lớn chứ chưa có cách mạng.

                     Nói như Lưu Hiệp, văn chương đã thay đổi theo thời: thời tự. “Từ thời Trung hưng về sau, các người tài hơi đổi lối văn”, “thời Hán Hiến Đế (189-220) nhường ngôi, văn học chuyển nhanh”, “Thời Giản Văn Đế (371-372) văn học nổi lên đột ngột”, “từ Minh Đế trở xuống, văn lí thay đổi”,… (Xem thêm: Lưu Hiệp, Văn tâm Điêu long, Phan Ngọc dịch, Nxb. Văn học, H., 1999, tr.254-257).

                 Người đọc, tùy gu hay não trạng, chọn lựa thứ văn chương hoặc tác giả mình yêu thích. Cứ thế…Chỉ đến khi tiếp xúc với văn học phương Tây, Trung hoa mới ý thức và đã làm được cách mạng văn học. Việt Nam không nằm ngoài thông lệ đó.

 


Các bài khác:
 
 
Thông tin sáng tác
Thư viện văn
Thư viện thơ
Tìm hiểu Phật giáo
Ý kiến bạn đọc
Thông tin từ thiện
L
I
Ê
N
H

T
G
 
Links đọc web
Tuổi trẻ
Thanh Niên
VietNamNet
Hội nhà văn VN
Hội nhà văn TP.HCM
Văn nghệ SCL
SG Giai Phong
Người Lao Động
Lao Động
Vnexpress
TTXVN
Hà Nội Mới
Tiền Phong
Nhân Dân
CA Tp HCM
CA Nhân Dân
Quân Đội ND
VTV
HTV
VNN Televison
HTV Hà Nội
TV Trực tuyến
Đài Tiếng Nói VN
Đài Tiếng Nói TPHCM
Dân Trí
24 Giờ
Tạp chí Lao Động
Tạp chí Gia Đình
VN Media
Tin tức Online
Đọc báo trực tuyến
Thời Báo SG
SG Tiếp Thị
Doanh Nhân SG
Diễn Đàn DN
Kinh Tế Đô Thị
Thời báo kinh tế SG
Thời báo KT Việt Nam
Báo
Báo Mua & Bán
Cẩm nang mua sắm
Sài Gòn News
Tạp chí VHNT ăn uống
Tạp chí Sành Điệu
Tuổi trẻ Cười
Báo Ảnh VN
Tạp Chí Đẹp
TC Kiến Trúc Nhà Đẹp
Tạp chí Tia Sáng
Thế hệ 8x
Báo Mực Tím
Sinh Viên VN
Thiếu nhi Tp
E Chíp
PC World
Ca dao
Thời văn
Tiền vệ
Bách hoa cung
Thơ trẻ
VN thư quán
báo Cần Thơ
Huế (cố đô)
Tạp chí Sông Hương
Giáo dục&thời đại
Đồng Tháp
VN Đồng Tháp
Báo Đồng Nai
Báo Khánh Hòa
Báo Bình Định
Báo mới
Ngôi sao
Dưỡng sinh
Vieshare
Tin tức - BBC
Tìm nhanh
Web tìm kiếm Google
THƯ VIỆN HOA SEN
ĐẠO PHẬT NGÀY NAY
THIỀN TÔNG VIỆTNAM
THIỀN SƯ NHẤT HẠNH
CHUYỂN PHÁP LUÂN
BÁO GIÁC NGỘ
PHẬT TỬ VIỆT NAM
VĂN HÓA PHẬT GIÁO
QUẢNG ĐỨC
BUDDHA SASANA
LOTUSMEDIA
PG NGUYÊN THỦY
DIỆU PHÁP ÂM
RỪNG THIỀN ĐẠT MA
PHÁP TẠNG
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
NI GIOI NGAY NAY
PHÁP VÂN
SUỐI TỪ
TTPG-CHÙA VIỆT NAM
TRUNG TÂM HỘ TÔNG
Y hoc cổ truyền
 
© by Thu Nguyet - All rights reserved.
Designed and developed by Nicestyle Co., Ltd.